Khi gà khẻ mỏ nhưng không nở, nguyên nhân thường gặp nhất là gà con bị ngạt do thiếu thông khí, độ ẩm sai khiến màng vỏ khô bó chặt, hoặc phôi nằm sai tư thế nên không xoay được để cắt vòng vỏ. Quan trọng nhất: bà con đừng vội bóc vỏ giúp gà — vì làm sai một động tác có thể khiến gà chảy máu và chết. Bài này hướng dẫn anh chị cách nhận biết nguyên nhân và xử lý đúng từng trường hợp.Vì sao gà đã khẻ mỏ mà vẫn không nở được? Một quả trứng nở bình thường sẽ đi theo hai bước: gà con khẻ mỏ vào buồng khí (đầu to của trứng) trước, ...
Trứng ấp khó nở do gà bố mẹ: thiếu chất, bệnh và cách phòng
Nhiều bà con gặp cảnh này: máy chạy đều, nhiệt độ, độ ẩm đúng, soi thấy có phôi, vậy mà phôi vẫn chết giữa chừng. Có mẻ nở ra gà con còi, khoèo chân, chết dần trong tuần đầu. Lỗi nhiều khi không nằm ở máy, mà ở đàn gà bố mẹ.

Mọi thứ phôi cần đều phải có sẵn trong quả trứng lúc đẻ ra. Gà mẹ ăn thiếu chất thì trứng thiếu chất. Gà mẹ mang bệnh thì mầm bệnh có thể theo trứng sang con. Máy ấp chỉ giữ nhiệt, ẩm, đảo trứng và cấp khí; máy không thêm được chất gì vào trứng.
Theo Đại học Florida (Mỹ), khi lỗi nằm ở đàn bố mẹ thì nó thường đã xảy ra ít nhất 4 tuần trước lúc thấy trứng không nở (khoảng 1 tuần gom trứng cộng 3 tuần ấp). Vì vậy phải phòng từ sớm.
1. Trứng cần gì từ gà bố mẹ: chọn đàn giống cho đúng
Ghép trống vừa đủ
Trống thừa hay đánh nhau, tranh mái, đạp mái ít đi nên trứng lại ít phôi. Khuyến cáo:
- Gà ta, gà lai thả vườn: khoảng 1 trống cho 8–10 mái (Khuyến nông Bắc Giang).
- Gà siêu trứng, giống nhẹ cân: khoảng 1 trống cho 10–12 mái. Trại giống chuyên nghiệp còn ghép thưa hơn, khoảng 1 trống cho 12–15 mái (Đại học Florida, Hy-Line).
- Đàn dưới 10 mái: 1 trống là đủ. Nên nuôi sẵn 1 trống dự phòng.
Trứng ít phôi thì xem con trống trước: non quá, già quá, béo quá hay đau chân. Vitamin không bù được việc thiếu trống. Xem thêm bài trứng gà không có trống.
Tuổi, đồng huyết, thay lông
- Gà bố mẹ non quá hoặc già quá thì trứng ít phôi, phôi dễ chết sớm. Trống càng già thì tinh trùng càng kém (ở gà giống công nghiệp, giảm rõ từ khoảng 45 tuần tuổi).
- Đổi trống lấy từ đàn khác. Đồng huyết (cận huyết) làm phôi dễ chết sớm, gà con yếu.
- Trứng mấy tuần đầu của gà mái tơ vẫn nở được nhưng kém hơn, gà con nhỏ, yếu. Bỏ những quả nhỏ đầu lứa, chờ gà đẻ đều, trứng đủ cỡ mới lấy ấp.
- Gà mái thay lông thường nghỉ đẻ. Chờ đẻ đều trở lại rồi hãy lấy trứng ấp.
Thuốc “kích đẻ”, trứng dính máu, trứng méo
Chưa có tài liệu nào cho thấy gà đẻ nhiều thì phôi yếu, miễn là gà được ăn đủ chất. Cái cần tránh là ép gà đẻ sớm bằng đèn khi chưa đủ lớn (dễ sa lỗ huyệt, tức lòi dom, trứng nhỏ) và cho gà đang lấy trứng ấp uống thuốc có kháng sinh nhóm sulfamid, tetracyclin (có thể gây dị tật phôi). Sản phẩm “kích đẻ” nào cũng nên đọc kỹ thành phần trên bao, hỏi thú y trước khi dùng.
Vệt máu ngoài vỏ hay gặp ở mái tơ mới đẻ hoặc đẻ trứng to, không cần loại mái ngay. Xem lỗ huyệt: lòi ra đỏ hoặc bị gà khác mổ thì tách riêng, nhờ thú y xem; con nào sa đi sa lại mới loại. Trứng méo, vỏ mỏng, bẩn, dính máu thì không đem ấp. Mái nào cứ đẻ trứng méo mãi thì loại khỏi đàn giống. Xem bài cách chọn trứng đủ tiêu chuẩn để ấp.
2. Thiếu chất ở gà bố mẹ: dấu hiệu trên trứng, phôi và gà con
Chất bổ trong trứng là do gà mái dồn vào; gà trống lo phần có phôi. Bảng dưới tổng hợp theo Cẩm nang Thú y Merck, Đại học Florida và thí nghiệm của Leeson (1979); số ngày tính cho trứng gà (ấp 21 ngày).
| Chất | Thiếu thì trứng, phôi ra sao | Gà con ra sao | Bổ sung bằng gì |
|---|---|---|---|
| Vitamin B2 | Ảnh hưởng tỉ lệ nở mạnh nhất: nở tụt chỉ sau khoảng 2 tuần gà mẹ ăn thiếu. Phôi còi, phù, lông tơ vón cục, ngón quặp. | Yếu. Gà con tự ăn thiếu B2 thì quặp ngón, đi khập khiễng. | Premix gà sinh sản. |
| B5 (axit pantothenic) | Gà vẫn đẻ đều mà trứng nở kém. | — | Premix gà sinh sản. |
| B12 | Trứng nhỏ đi. Phôi chết giữa và cuối kỳ. | — | Premix, bột cá. |
| Biotin, axit folic | Phôi chết nhiều ở cuối kỳ; chân, cánh ngắn, mỏ vẹt, xương cong. | Chân vẹo, đi loạng choạng (thiếu biotin). | Premix. |
| Vitamin A | Đẻ giảm. Phôi chết sớm (ngày 2–3). | Chảy nước mắt, dính mí. | Premix; rau lá xanh, bí đỏ, ngô vàng. |
| D3 và canxi | Vỏ mỏng đi sau vài ngày, trứng mất nước. Phôi chết sau ngày 17. | Còi, xương mềm, chân cong. | Ra nắng; bổ sung D3; máng vỏ sò. |
| E và selen | Phôi chết sớm (ngày 2–5), xuất huyết, phù cổ. | Yếu cơ. Gà con tự ăn thiếu E thì loạng choạng, co giật. | Premix (selen chỉ lấy qua premix); rau xanh tươi. |
| Vitamin K | Phôi xuất huyết, chết lúc sắp nở. | Dễ chảy máu, bầm da. | Rau lá xanh, premix. |
| Mangan | Vỏ mỏng. Phôi chết sau ngày 18, chân ngắn. | Đi không vững, ngửa cổ. | Premix. |
| Kẽm | Phôi chết nhiều, dị tật xương (không có phao câu). | Yếu, không đứng được. | Premix. |
Lưu ý: nhìn dị tật phôi không đoán chắc được thiếu chất nào. Dấu hiệu nhạy nhất là phôi chết nhiều ở giữa kỳ (ngày 8–14): thí nghiệm của Leeson và cộng sự (1979) cho thấy kiểu chết này hầu như không gặp ở đàn ăn đủ, và hết khoảng 3 tuần sau khi bổ sung lại. Nhưng trứng nhiễm bẩn hoặc máy quá nóng cũng làm phôi chết giữa kỳ, nên loại trừ hai lỗi này trước. Thiếu phốt pho, i-ốt, đồng cũng làm chết phôi, nhưng các chất này có sẵn trong thức ăn hỗn hợp.
Cho ăn thế nào trước khi lấy trứng ấp
- Đừng chọn lẻ vài chất. Cho ăn cám gà đẻ giống, hoặc premix vitamin – khoáng cho gà sinh sản đúng liều trên bao. Gà giống cần nhiều vitamin E, B2, B5, B6, axit folic, kẽm hơn gà đẻ trứng ăn.
- Cho ăn sớm: ít nhất 3–4 tuần, tốt nhất 4–6 tuần trước khi gom trứng, và giữ suốt mùa ấp.
- Trứng đã vào máy thì chất bên trong đã cố định. Cho gà mẹ uống thuốc bổ lúc này chỉ giúp các mẻ sau.
- Để riêng máng vỏ sò hoặc đá vôi hạt cho gà tự ăn. Gà chỉ ăn thóc, ngô trắng thì thêm rau xanh, bí đỏ.
- Không cho ăn cám mốc (độc tố nấm làm phôi chết), dầu mỡ ôi (phá vitamin E). Không tự pha thêm selen, vitamin A liều cao.
- Không dùng kéo dài thuốc cầu trùng nhóm sulfa: làm mất tác dụng vitamin K.
3. Bệnh truyền từ gà mẹ qua trứng sang con
Một số bệnh đi thẳng từ buồng trứng gà mẹ vào quả trứng. Gà mẹ trông khỏe, nhưng phôi chết hoặc gà con nở ra đã mang bệnh.
Bạch lỵ và thương hàn gà
Do vi khuẩn Salmonella. Với bạch lỵ, gà lớn mang trùng thường không có triệu chứng; với thương hàn, gà lớn cũng có thể ốm, tiêu chảy, chết. Gà con túm tụm gần nguồn nhiệt, bỏ ăn, phân trắng bết hậu môn, có thể chết gần hết trong 2–3 tuần đầu. Chữa chỉ đỡ triệu chứng, gà vẫn mang trùng. Cách chính là xét nghiệm máu đàn giống, loại con dương tính, mua giống từ nguồn sạch. Mẻ gà con nào bị bạch lỵ thì nghi đàn bố mẹ mang trùng: nên nhờ thú y xét nghiệm, chưa rõ thì đừng lấy trứng đàn đó ấp tiếp.
Các Salmonella khác lây chủ yếu qua phân dính trên vỏ, có thể lây sang người. Không ấp trứng dính phân, rửa tay trước và sau khi nhặt trứng.
Hen gà (CRD, do Mycoplasma)
Truyền qua một phần nhỏ số trứng, nhiều hơn khi gà nhiễm lúc đang đẻ. Gà bố mẹ nhiều khi không có triệu chứng, chỉ đẻ giảm; khi phát bệnh thì khò khè, ho, chảy nước mũi. Phôi chết tăng. Đã nhiễm là mang suốt đời, kháng sinh chỉ giảm triệu chứng. Chọn giống từ đàn sạch bệnh, không lấy trứng ấp khi đàn đang khò khè.
Viêm não tủy truyền nhiễm (AE)
Do virus, truyền qua trứng là đường chính. Gà mẹ chỉ tụt đẻ 5–10% trong dưới 2 tuần, tỉ lệ nở giảm nhẹ do phôi chết muộn. Gà con nở ra run đầu cổ, loạng choạng, liệt ngay tuần đầu; dễ nhầm với thiếu vitamin E. Phòng bằng vắc xin cho gà hậu bị, tiêm ít nhất 4 tuần trước khi đẻ. An toàn nhất là không ấp trứng đẻ trong đợt tụt đẻ nghi AE và khoảng 2 tuần sau đó.
Rụt mỏ ở ngan, ngỗng (parvovirus)
Bệnh truyền qua trứng quan trọng nhất ở thủy cầm. Con dưới 1 tuần tuổi chết rất nhanh, có thể tới 100%; con sống sót thì còi cọc, rụng lông. Ưu tiên trứng từ đàn bố mẹ đã tiêm vắc xin; không ấp chung trứng ngan, ngỗng từ nhiều nguồn không rõ tiêm phòng.
Ngoài ra, bệnh thiếu máu truyền nhiễm (CAV) và u bạch huyết (leukosis) cũng truyền qua trứng mà gà bố mẹ gần như không có dấu hiệu. Ngược lại, Marek, tụ huyết trùng và viêm gan vịt được Cẩm nang Merck xem là không truyền qua trứng. Lịch vắc xin cụ thể, bà con hỏi thú y địa phương.
4. Bệnh làm trứng xấu, giảm tỉ lệ nở
Hội chứng giảm đẻ (EDS)
Do virus. Gà trông khỏe mà số trứng dùng được giảm khoảng 10–40%. Trứng nhạt màu, rồi vỏ mỏng, vỏ mềm, không vỏ. Theo Merck, trứng vỏ còn tốt thì tỉ lệ có phôi và tỉ lệ nở không bị ảnh hưởng; chỉ trứng vỏ xấu mới ấp kém. Dù vậy virus có thể theo trứng sang gà con và nằm im tới lúc gà con lớn lên đẻ. Vịt, ngan, ngỗng mang virus này mà ít phát bệnh, nên đừng cho gà giống dùng chung ao, nước với chúng. Phòng bằng vắc xin cho gà hậu bị trước khi đẻ, theo hướng dẫn thú y. Xem thêm bài gà đẻ trứng vỏ lụa.
Viêm phế quản truyền nhiễm (IB)
Đẻ giảm tới 70%. Trứng méo, vỏ mỏng, nhăn, sần, nhạt màu, lòng trắng loãng; gà con nở ra nhỏ. Trứng có thể mất tới 8 tuần mới trở lại bình thường. Gà mái nhiễm từ lúc còn rất nhỏ có thể hỏng ống dẫn trứng, lớn lên không bao giờ đẻ bình thường. Không có thuốc đặc trị, phải phòng bằng vắc xin.
Newcastle (gà rù) và cúm gia cầm
Cả hai làm đẻ giảm, trứng méo; virus có thể có trong trứng. Với đàn nghi hai bệnh này: không ấp, không bán, không vận chuyển trứng, báo ngay cho thú y.
Khi nào không nên lấy trứng ấp
- Đàn đang tụt đẻ đột ngột, trứng nhạt màu, vỏ mỏng, méo.
- Đàn đang khò khè, ủ rũ, chết rải rác, hoặc nghi gà rù, cúm.
- Đàn có gà con nở ra bị bạch lỵ mà chưa xét nghiệm.
- Đàn vừa khỏi viêm phế quản: chờ trứng trở lại bình thường.
- Đàn đang dùng kháng sinh, thuốc cầu trùng: hỏi thú y bao lâu sau mới lấy trứng.
5. Vi khuẩn, nấm từ trứng bẩn và máy bẩn
Trứng thối, trứng nổ
Vi khuẩn chui qua lỗ vỏ làm trứng thối, rỉ dịch, bốc mùi; với trứng gà thường lộ ra khoảng ngày 18. Trứng nổ phun vi khuẩn khắp máy, lây sang trứng khác. Nguyên nhân: trứng bẩn, ổ đẻ bẩn, rửa hoặc lau sai, tay bẩn, trứng đọng sương, khay và hộp nước bẩn.
- Nhặt trứng khỏi ổ 2–4 lần mỗi ngày, trời nóng nhặt dày hơn; trứng sạch để riêng, trứng bẩn để riêng.
- Không rửa trứng ấp, không lau bằng khăn ướt. Nước giúp vi khuẩn chui qua vỏ. Dính bẩn nhẹ thì chải khô nhẹ tay; phải chải 2–3 lần mới sạch là trứng quá bẩn, không nên ấp. Không cạo, chà giấy nhám vỏ trứng.
- Tránh trứng “đổ mồ hôi”: để trứng ấm dần, khô ráo rồi mới vào máy.
- Trứng càng ấp sớm càng tốt: mỗi ngày để thêm là nở chậm hơn và nở ít đi. Không có phòng bảo quản thì để nơi mát nhất trong nhà, mùa nóng gom tối đa 3 ngày, mùa lạnh 5 ngày. Có phòng mát 12–18°C, ẩm 75–85%, đảo trứng mỗi ngày thì giữ được 7–10 ngày (quá 7 ngày thì nở giảm dần). Xếp đầu nhọn xuống. Xem bài bảo quản trứng trước khi ấp.
Vệ sinh máy giữa các mẻ
Chất sát trùng mất tác dụng khi gặp phân, lông, vỏ trứng. Phải cọ rửa sạch trước, riêng bước này loại được 95–99% vi sinh vật (Đại học Mississippi), rồi mới sát trùng. Xem bài sát khuẩn máy ấp trứng giữa các mẻ.
Về xông formol: formol (formaldehyde) là chất gây ung thư ở người (Viện Ung thư Quốc gia Mỹ). Với máy gia đình, nên cọ rửa sạch rồi lau sát trùng thông thường. Nếu vẫn xông thì chỉ xông khi máy không có trứng, làm nơi thoáng, đeo găng, kính, khẩu trang, để xa trẻ em. Tuyệt đối không xông trứng đang trong 12–96 giờ đầu ấp vì làm chết phôi.
Viêm rốn và nấm phổi ở con non
Viêm rốn: rốn không liền, bị vi khuẩn xâm nhập. Gà con lừ đừ, bụng to, rốn ướt, hôi; chết tăng dần tới 2 tuần tuổi. Chữa thường không hiệu quả; phòng bằng trứng sạch, máy sạch, nhiệt ẩm đúng.
Nấm phổi: bào tử nấm từ trứng mốc, máy nở, lồng úm, trấu lót bị mốc. Con non thở khó, há mỏ, hay gặp dưới 3 tuần tuổi; gần như không chữa được. Một ổ dịch ở 800 ngan con khoảng 10 ngày tuổi chết tới 28%; nấm lấy ở lò ấp và ở ngan bệnh giống hệt nhau. Loại ngay trứng thối, trứng rỉ dịch khi soi; không dùng trấu, rơm mốc; giữ máy khô, sạch, thông thoáng.
6. Soi và đập trứng không nở để đoán nguyên nhân
Soi trứng lúc khoảng 1 tuần để loại trứng không phôi (xem bài soi trứng và kiểm tra phôi); trứng loại ra lúc này nên đập ngay để xem, vì để hết mẻ thì khó phân biệt trứng không phôi với phôi chết rất sớm. Hết mẻ, đập các trứng không nở ra xem (đeo găng, làm ngoài trời vì trứng thối có thể nổ). Bảng tính cho trứng gà ấp 21 ngày (Aviagen, Đại học Florida, Đại học Mississippi).
| Lúc phôi chết | Nghi do đàn bố mẹ | Nghi do bảo quản, máy, vệ sinh |
|---|---|---|
| Không có phôi (đốm trắng nhỏ, méo, không máu) | Trống non, già, béo; thừa hoặc thiếu trống; đàn bệnh | Trứng để quá lâu |
| Dưới 4 ngày (chưa có mạch máu, hoặc vòng máu) | Bố mẹ quá non, quá già; bệnh qua trứng; thiếu vitamin A, E, biotin | Bảo quản sai; va đập; nhiệt đầu kỳ sai; xông formol ngày đầu |
| 4–7 ngày (thấy mắt đen) | Thiếu vitamin E, B2, biotin | Nhiễm khuẩn (vỏ nứt, trứng bẩn); nhiệt cao; đảo sai; thiếu khí |
| 8–14 ngày (có mỏ, lông) | Dấu hiệu nhạy nhất của thiếu chất: B2, B12, biotin, B5, B6 | Nhiễm bẩn, nấm mốc; máy quá nóng |
| 15–21 ngày, chưa mổ vỏ | Thiếu D3, canxi, mangan, axit folic, K; đàn bệnh | Nhiệt ẩm sai; trứng bị lạnh; đặt ngược đầu; nấm mốc |
| Mổ vỏ rồi chết | Thiếu chất; đàn bệnh | Ẩm thấp, nhiệt cao lúc nở; thiếu khí; mở máy nhiều |
Với vịt (28 ngày), ngan (khoảng 35 ngày), ngỗng (khoảng 30 ngày), cút (17–18 ngày), bà con dựa vào giai đoạn (vòng máu, mắt đen, có lông, mổ vỏ) thay vì số ngày. Xem thêm thời gian ấp trứng vịt, ngan, ngỗng.
Bảng chỉ để khoanh vùng, không phải chẩn đoán chắc chắn. Trứng cùng một đàn, ấp máy nào cũng chết giống nhau thì nghĩ tới đàn bố mẹ; trứng nhiều nguồn mà chết tập trung ở một máy, một góc máy thì nghĩ tới máy. Xem thêm bài vì sao trứng gà ấp bị chết phôi.
7. Việc cần làm trước mỗi mẻ ấp
- Đàn bố mẹ khỏe, tiêm phòng đủ theo lịch thú y; không có con ốm, khò khè, tụt đẻ.
- Tỉ lệ trống vừa đủ; trống khỏe, không đồng huyết.
- Gà bố mẹ đã ăn cám gà đẻ giống hoặc premix gà sinh sản ít nhất 3–4 tuần.
- Gà đang đẻ có máng vỏ sò riêng; không cám mốc, dầu mỡ ôi.
- Không cho gà đang lấy trứng ấp uống kháng sinh khi chưa hỏi thú y.
- Bỏ trứng nhỏ đầu lứa của gà mái tơ.
- Loại trứng méo, nứt, vỏ mỏng, nhạt màu, dính máu, dính phân.
- Không rửa trứng; rửa tay trước khi nhặt, xếp trứng.
- Trứng gom càng mới càng tốt, không để quá số ngày ở mục 5, đầu nhọn xuống, không đọng sương.
- Máy đã cọ rửa, sát trùng, khô ráo; hộp nước sạch.
- Ghi sổ kết quả soi và đập trứng không nở mỗi mẻ.
8. Hỏi đáp
Cho gà mẹ uống vitamin khi trứng đang ấp có giúp mẻ đó nở tốt hơn không?
Không. Chất trong trứng đã cố định từ lúc đẻ ra. Bổ sung lúc này chỉ giúp các mẻ sau. Muốn mẻ nào nở tốt thì cho gà bố mẹ ăn đủ chất ít nhất 3–4 tuần (tốt nhất 4–6 tuần) trước khi gom trứng.
Bao nhiêu trống thì đủ cho 10 con mái?
1 trống là đủ. Gà ta khoảng 1 trống cho 8–10 mái; gà siêu trứng khoảng 1 trống cho 10–12 mái. Nhiều trống quá thì đánh nhau, trứng lại ít phôi.
Gà mái đẻ trứng dính máu có phải loại không?
Không cần loại ngay. Vệt máu ngoài vỏ hay gặp ở mái tơ mới đẻ hoặc đẻ trứng to. Xem lỗ huyệt, lòi ra đỏ thì tách riêng, nhờ thú y xem; con nào sa đi sa lại mới loại. Trứng dính máu thì không đem ấp.
Trứng mấy tuần đầu của gà mái tơ có ấp được không?
Ấp được nhưng nở kém hơn, gà con nhỏ, yếu. Nên chờ gà đẻ đều, trứng đủ cỡ của giống rồi mới lấy ấp.
Máy ấp tốt có cứu được trứng từ gà bố mẹ thiếu chất hoặc mang bệnh không?
Không. Máy ấp Bảo Tín giữ nhiệt, ẩm đều và đảo trứng đúng, nhưng máy nào cũng không thêm được chất vào trứng, không diệt được mầm bệnh nằm sẵn trong trứng. Trứng tốt từ đàn khỏe cộng máy chạy ổn định thì mới nở tốt. Cần hỏi thêm, bà con gọi hoặc nhắn Zalo bộ phận Kỹ thuật ấp nở của Bảo Tín: 0907 96 96 25 (thứ Hai – thứ Bảy, 8:00–17:30, nghỉ trưa 12:00–13:30).
Nguồn tham khảo
- H. R. Wilson – Hatchability Problem Analysis (CIR1112), Đại học Florida / IFAS.
- Cẩm nang Thú y Merck (Merck Veterinary Manual) – các mục thiếu vitamin, khoáng, nhu cầu dinh dưỡng gia cầm và các bệnh nêu trong bài.
- Đại học Mississippi (Mỹ) – Hatching Quality Chicks; Trouble Shooting Failures with Egg Incubation.
- Leeson, Reinhart và Summers (1979) – Canadian Journal of Animal Science.
- Aviagen; Cobb-Vantress; Hy-Line – tài liệu kỹ thuật lò ấp và đàn giống.
- Trung tâm Khuyến nông Bắc Giang (2022); FAS Scotland – Poultry factsheet.
- Sở Nông nghiệp Queensland (Úc) và DSM – Optimum Egg Quality.
- Fouad và cộng sự (2020), McLeod và cộng sự (2014) – Poultry Science; EL-Shemy và cộng sự (2023) – J. Adv. Vet. Anim. Res.
- CFSPH, Đại học Iowa State; Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam; Viện Ung thư Quốc gia Mỹ (NCI).
